Case study tích hợp

Bài này hữu ích khi bạn muốn biết một thiết kế dữ liệu cần thêm trách nhiệm và quy tắc nào để vận hành được.

Đọc xong bạn hiểu gì

  • Nối từng chặng kiến trúc với người quyết định, người theo dõi và người thực hiện
  • Ghi quy tắc chất lượng cùng cách xử lý phần chưa đạt, thay vì chỉ lập danh sách lỗi
  • Giới hạn truy cập theo công việc và kiểm quyền thực tế trước khi dùng
  • Đọc ba metric (chỉ số) theo dõi đúng phạm vi, biết chúng chưa chứng minh điều gì

Khoảng 18 phút đọc.

Mục lục

Bối cảnh

Sao Mai là một chuỗi cửa hàng tạp hoá và đồ gia dụng. Chuỗi bắt đầu từ một cửa hàng và đang mở thêm cửa hàng mới. Mỗi cửa hàng bán hàng qua máy tính tiền; dữ liệu bán hàng được gửi về văn phòng để các phòng ban làm báo cáo. Tên chuỗi và mọi số liệu trong bài là giả lập.

R05 thiếu mã cửa hàng, dữ liệu CH03 về trễ, còn người xem báo cáo xin mở cả tệp gốc. Sắp tới giờ họp sáng, bạn sẽ xử lý thế nào? Ai xác nhận mã đúng, ai quyết định chờ hay dùng bản tạm, và ai được phép xem chi tiết?

Sao Mai đang xét phương án lập báo cáo sáng từ dữ liệu bán hàng ngày đã kết thúc. Đường đi dưới đây được nhắc lại từ bài “Case study kiến trúc”, đủ để đọc riêng bài này.

  1. Nguồn: máy bán hàng ghi dòng hàng, hoá đơn và các lần thanh toán tại cửa hàng.
  2. Thu nạp: nhận tệp ngày, ghi cửa hàng gửi, kỳ dữ liệu, mã batch (lô dữ liệu), mã lần nhận và lúc nhận; bản gửi lại có lần nhận riêng.
  3. Lưu trữ: giữ bản gốc để đối chiếu; data warehouse (kho dữ liệu) là nơi tổ chức các bảng dùng cho phân tích.
  4. Xử lý: kiểm, tách phần chờ, xử lý gửi lại; giữ riêng dòng hàng và thanh toán rồi tính báo cáo theo từng định nghĩa.
  5. Phục vụ: mở báo cáo từ bảng đã chuẩn bị, hiện định nghĩa, kỳ dữ liệu, giờ cập nhật và phần còn thiếu hoặc chưa xác nhận.

Bản gửi về văn phòng được lưu, kiểm và tính trước khi tới người xem. Phương án dùng xử lý theo batch, tức gom dữ liệu để xử lý cùng lượt. Với báo cáo định kỳ từ bảng, giữ tệp gốc chưa đòi hỏi data lake (hồ dữ liệu) riêng. Dòng hàng và thanh toán ghi những việc khác nhau, nên cần tổng hợp từng bảng về mức hoá đơn trước khi ghép để tránh cộng tiền hàng nhiều lần.

Kỳ minh hoạ là ngày 14/09/2026, hạn nhận 06:00 và giờ cần báo cáo 08:00 ngày 15/09/2026. Kinh doanh xem tiền hàng theo lúc bán, không trừ giảm giá hay hàng trả lại. Kế toán xem tiền hàng trừ giảm giá theo lúc ghi sổ, rồi trừ hàng trả lại trong kỳ. Cách tính của Kế toán là quy ước nội bộ đã rút gọn của Sao Mai, không phải hướng dẫn theo chuẩn mực kế toán.

Đường đi ấy cần thêm người xác nhận dữ kiện, người chốt cách dùng và giới hạn truy cập. Bài này bổ sung hồ sơ cho phương án giả lập chưa duyệt; dữ liệu mẫu vẫn giữ lỗi gốc, chưa có kết quả vận hành hay thử quyền thực tế.

Trách nhiệm đi cùng phạm vi quyết định

Data Owner (người chịu trách nhiệm dữ liệu) là người được giao quyền quyết định và chịu trách nhiệm trong một phạm vi dữ liệu. Họ chốt định nghĩa, quy tắc và cách dùng phần còn vấn đề trong quyền được giao; cửa hàng xác nhận dữ kiện giao dịch.

Data Steward (người điều phối dữ liệu) theo dõi dữ liệu hằng ngày, hỏi nguồn, ghi căn cứ và phối hợp xử lý theo quy tắc đã thống nhất. Data Custodian (người phụ trách kỹ thuật dữ liệu) lo lưu giữ, vận hành và thực hiện thay đổi kỹ thuật theo phạm vi được giao. Có quyền sửa bảng trên hệ thống chưa có nghĩa được đổi định nghĩa báo cáo.

Trưởng phòng Kinh doanh chốt metric tiền hàng bán ra; kế toán trưởng chốt doanh thu Kế toán. Quy tắc mã cửa hàng dùng chức danh minh hoạ “trưởng phòng phụ trách báo cáo doanh thu”; khi áp dụng, ghi người cụ thể và báo cáo họ phụ trách. Thay đổi chạm cả hai phòng cần người có quyền mỗi bên thống nhất, kỹ thuật không chọn thay.

Nhóm nhỏ có thể để một người vừa theo dõi vừa thực hiện, nếu công việc vẫn kiểm lại được. Khi nhiều nhóm cùng phụ thuộc vào báo cáo, nên ghi riêng quyền quyết định và việc thực hiện để biết cần gọi người nào. Chưa cần lập phòng ban mới chỉ để có đủ tên vai.

Quy tắc và quyền truy cập cần gắn với việc dùng

Chất lượng dữ liệu (data quality) là mức dữ liệu đáp ứng mục đích định dùng. Thiếu mã thì chưa phân được tiền theo cửa hàng; báo cáo đúng giờ mà bỏ phần ấy vẫn thiếu dữ liệu.

Quy tắc cần ghi điều kiện đạt, nơi kiểm và hành động khi chưa đạt. Trong phương án, Bronze (lớp dữ liệu thô) giữ từng bản nhận; Silver (đã kiểm) giữ phần đạt quy tắc đang áp dụng; Gold (phục vụ báo cáo) tính kết quả cho từng mục đích. Vùng cách ly (quarantine) giữ riêng hoặc đánh dấu phần chưa đạt để không tự đi vào bảng dùng tiếp. Các lớp có thể cùng nằm trong một nơi lưu, chưa cần hệ thống riêng cho từng lớp.

Phát hiện lỗi, xác nhận giá trị và chấp thuận cách dùng báo cáo là những việc khác nhau. Bản tạm có ghi chú phù hợp khi người có quyền xét phần còn lại đủ cho quyết định. Nếu phần thiếu làm mất căn cứ quyết định, cần chờ hoặc đổi giờ dùng.

Ma trận truy cập (access matrix) là bảng nối vai trò, mục đích với phần dữ liệu và thao tác được phép. Người xem tổng ngày có thể chỉ cần bảng tổng; người đối chiếu lỗi cần đúng dòng gốc liên quan. Với một yêu cầu đơn lẻ, ghi các giới hạn ấy trong phiếu có thể đủ. Khi nhiều người dùng thường xuyên, ma trận giúp kiểm lại quyền khi công việc đổi. Chưa cần mua công cụ riêng nếu tệp và cách cấp quyền hiện có đáp ứng được phạm vi đã chốt.

Ví dụ giải sẵn

Hồ sơ vận hành đã điền: phạm vi và phần còn chờ

Mục Nội dung
Việc phục vụ Báo cáo sáng về ngày bán 14/09/2026; phân biệt metric của Kinh doanh và Kế toán
Kiến trúc đầu vào Nhận tệp ngày, giữ bản gốc, kiểm rồi tính tại nơi phân tích, phục vụ báo cáo từ bảng đã chuẩn bị
Mốc dùng Hạn nhận 06:00, cần mở được bản mới lúc 08:00 ngày 15/09/2026
Phạm vi dữ kiện để thử Các batch mẫu CH01, CH02, CH03; hành trình CH03 và các lỗi trong bản nhận gốc
Phần chưa được chứng minh Đủ dữ liệu toàn chuỗi, lỗi đã sửa, quyền đã cấp đúng, lịch xử lý mới đáp ứng
Trạng thái hồ sơ Phương án để trao đổi; chưa có người duyệt hoặc lần vận hành thật

Trước khi thử trên hệ thống thật, cần xác nhận phạm vi nguồn, khoá ổn định và người được giao quyền. Không ghép các minh hoạ giao dịch khác thành doanh thu toàn chuỗi.

Ma trận phân vai đã điền theo chặng

Chặng hoặc việc Quyền quyết định, xác nhận Theo dõi và thực hiện
Nguồn: sửa giao dịch Cửa hàng kiểm giao dịch gốc, xác nhận giá trị đúng Cửa hàng gửi bản sửa; Data Steward giữ căn cứ
Thu nạp: nhận trễ, nhận lại Trưởng phòng phụ trách báo cáo chốt cách dùng phần thiếu trong phạm vi được giao Data Steward hỏi nguồn; kỹ thuật ghi từng lần nhận và cảnh báo
Lưu trữ: giữ và mở bản gốc Người có quyền trong phạm vi dữ liệu chốt mục đích, phần được xem Kỹ thuật giữ bản nhận, cấp quyền theo giới hạn; Data Steward kiểm lại
Xử lý: quy tắc mã cửa hàng Trưởng phòng phụ trách báo cáo doanh thu chốt quy tắc; cửa hàng xác nhận mã đúng Data Steward theo dõi lỗi; kỹ thuật kiểm và tách phần chờ
Xử lý: cách tính từng phòng Trưởng phòng Kinh doanh và kế toán trưởng chốt phần của mình Người lập báo cáo kiểm cách tính; kỹ thuật triển khai theo định nghĩa
Phục vụ: bản đang dùng Người có quyền ở từng báo cáo chốt chờ hay dùng bản tạm theo mục đích Người lập báo cáo ghi giới hạn, báo người nhận; kỹ thuật cập nhật đúng bản

Điền người liên hệ và người thay thế được giao quyền cho từng phạm vi. Nếu thiếu người thay thế hoặc quyền giao nhau chưa rõ, báo người quản lý có quyền để giải quyết, thay vì để người trực hệ thống tự chốt.

Bảng quy tắc và hành động đã điền

Quy tắc và nơi kiểm Khi chưa đạt Điều kiện dùng tiếp
Mã cửa hàng không trống; kiểm trước Silver Giữ bản gốc, tách dòng chờ và hỏi cửa hàng gửi Có mã đúng do cửa hàng xác nhận; nhận bản sửa và kiểm lại
Một sự kiện không góp tiền nhiều lần; kiểm khoá và nội dung khi nhận lại Bản giống hệt không thêm giao dịch; cùng khoá khác nội dung chưa rõ thì chờ Khoá ổn định đã xác nhận; bản sửa có căn cứ chỉ thay đúng sự kiện
Nhận batch chậm nhất 06:00 ngày 15/09/2026 Báo cửa hàng, người lập báo cáo và người có quyền chốt cách dùng Nhận và kiểm được phần dữ liệu; nhận trước 08:00 chưa chứng minh báo cáo kịp
Người xem mở được bản mới lúc 08:00 ngày 15/09/2026 Báo tình trạng và giờ dự kiến; xin quyết định chờ hoặc bản tạm Đúng bản, đúng kỳ, hiện định nghĩa, giờ cập nhật và phần chưa xác nhận

Có thể bắt đầu từ lỗi gây ảnh hưởng rồi bổ sung quy tắc, chưa cần kiểm mọi bảng cùng lúc. Với bản nhận ngày 14/09/2026, còn cần kiểm số lượng âm, tổng hoá đơn và chứng từ theo mục đích dùng; qua kiểm mã chưa có nghĩa cả batch đã đúng.

Khoá nhận diện (key) là cột hoặc nhóm cột phân biệt dòng dữ liệu. Để nhận lại mà không cộng lặp, khoá phải nhận ra cùng sự kiện giữa các lần gửi. Cặp “mã hoá đơn + số thứ tự dòng” dùng trong phạm vi mẫu; khi mở rộng toàn chuỗi, cần hỏi nguồn có phải thêm mã cửa hàng không. Mã batch và mã lần nhận không thay khoá sự kiện. Với bản sửa, tính lại phần bị ảnh hưởng rồi thay kết quả cũ, không cộng thêm tổng mới. Nếu ít lần gửi lại, đối chiếu bằng tay theo nguyên tắc này có thể đủ.

Theo R05 từ phát hiện tới điều kiện dùng lại

Bản nhận gốc vẫn thiếu mã cửa hàng
DòngBatchMã cửa hàng
R05L-CH02-0914(trống)
  1. Data Steward ghi R05 thiếu mã, nằm trong batch do CH02 gửi, và hỏi CH02 kiểm giao dịch gốc. Cửa hàng gửi batch là đầu mối xác minh, chưa phải căn cứ tự điền mã.
  2. Kỹ thuật giữ bản nhận, tách dòng chờ khỏi bảng dùng để phân tiền theo cửa hàng. Người lập báo cáo ghi phần chưa phân được; tổng đang xem chưa bao gồm đủ phần đó.
  3. Nếu tới giờ dùng mà chưa có xác nhận, trưởng phòng phụ trách báo cáo xét chờ hoặc dùng bản tạm theo mục đích. Giới hạn cần tới cả người nhận tệp chép từ báo cáo.
  4. Nếu CH02 xác nhận mã đúng và gửi bản sửa theo quy tắc đã chốt, kỹ thuật nhận bản mới, kiểm lại, tính lại phần liên quan. Data Steward đối chiếu căn cứ; người lập báo cáo kiểm kết quả và báo bản nào thay bản nào.

Nếu nguồn xác nhận bản gửi mới đầy đủ và nhóm kiểm được, có thể thay phần dữ liệu đã kiểm của đúng cửa hàng, ngày bán rồi tính lại. Nếu chỉ sửa một dòng, thay cả ngày có thể làm mất những dòng khác.

Ma trận truy cập đã điền

Ma trận dưới đề xuất quyền cho dữ liệu bán hàng và báo cáo đã nêu, không gồm danh sách khách hàng.

Vai trò và mục đích Phần dữ liệu, thao tác Giới hạn đề xuất
Cửa hàng đối chiếu lỗi của mình Xem dòng liên quan do mình gửi; gửi bản sửa có căn cứ Không sửa bản nhận gốc tại văn phòng, không xem chi tiết cửa hàng khác
Data Steward xác minh lỗi Xem dòng cần kiểm và lịch sử xử lý trong phạm vi được giao; ghi căn cứ Không tự đổi định nghĩa, không xuất toàn bộ chi tiết cho mục đích khác
Kỹ thuật vận hành việc nhận, kiểm, tính Đọc phần cần cho công việc; cập nhật bảng xử lý theo quy tắc đã chốt Không tự duyệt ngoại lệ nghiệp vụ; giữ bản nhận gốc khi xử lý bản sửa
Người lập báo cáo kiểm và gửi bản Xem bảng đã kiểm, bảng tổng trong phạm vi báo cáo; xuất bản báo cáo được chấp thuận Chi tiết gốc để điều tra cần quyền riêng theo nhu cầu
Quản lý xem kết quả bán hàng Xem báo cáo tổng theo phạm vi quản lý đã giao Quyền xem tổng không mở kèm quyền sửa nguồn hoặc xuất mọi dòng gốc

Người có quyền chốt dữ liệu, thao tác và người nhận; kỹ thuật cấp quyền tương ứng. Nếu công cụ chỉ mở được cả tệp, tạo bản riêng đúng phạm vi; nếu chưa làm được, báo lại trước khi cung cấp. Khi người dùng đổi việc, Data Steward kiểm lại và đề nghị điều chỉnh quyền.

Với báo cáo dùng chung, thử bằng tài khoản đúng vai trò cả phần được phép lẫn phần ngoài phạm vi, rồi ghi kết quả: cửa hàng xem được dòng của mình, không mở chi tiết cửa hàng khác; người xem tổng không sửa được nguồn. Với một lần gửi tệp riêng, kiểm nội dung và người nhận có thể đủ. Vẫn ghi nơi nhận vì đóng quyền nguồn không thu lại được bản đã gửi.

Ba metric theo dõi mẫu đã điền

Theo dõi các batch mẫu dưới đây, với ngày bán 14/09/2026 và ngày nhận 15/09/2026.

Phạm vi mẫu, không phải toàn chuỗi
Batch được theo dõiNgày bán
L-CH01-09142026-09-14
L-CH02-09142026-09-14
L-CH03-09142026-09-14

Chỉ mốc phục vụ của CH03 có trong dữ liệu hành trình. Lúc nhận lấy từ bản nhận gốc; dòng thiếu mã cũng đếm trên bản gốc, chưa tính sau sửa.

Metric và cách tính Kết quả mẫu Việc cần theo dõi
Batch nhận sau hạn: đếm batch trong phạm vi có lúc nhận sau 06:00 ngày 15/09/2026 1 batch Data Steward hỏi CH03 và kỹ thuật về giờ gửi, lý do chờ
Dòng thiếu mã cửa hàng: đếm dòng nhận gốc trong các batch thuộc phạm vi có mã trống 1 dòng Data Steward theo R05 tới xác nhận của CH02
Lượt báo cáo mở bản mới sau giờ cần dùng: so mốc phục vụ đã ghi với mốc dự kiến 1 lượt Người lập báo cáo báo trễ; kỹ thuật tìm khâu chờ, người có quyền xét lịch dùng

Metric đầu đo khâu nhận, metric cuối đo tới người xem. CH03 nhận lúc 07:10, tính xong lúc 08:05 và mở bản mới lúc 08:15, trễ mốc 08:00. Sao Mai chọn chờ CH03 rồi ra bản mới, kèm ghi chú lỗi chưa xác nhận như kiến trúc đầu vào.

Các mốc của CH03 ngày 15/09/2026
ChặngMốc dự kiếnThực tế xong
Nguồn15/09/2026 05:4015/09/2026 05:40
Thu nạp15/09/2026 06:0015/09/2026 07:10
Lưu trữ15/09/2026 06:0515/09/2026 07:15
Xử lý15/09/2026 07:3015/09/2026 08:05
Phục vụ15/09/2026 08:0015/09/2026 08:15

Đọc kết quả theo đúng phạm vi: nhận trễ chưa cho biết cửa hàng gửi trễ vì thiếu giờ gửi; dòng thiếu mã đếm trên bản nhận, không đếm giao dịch duy nhất hay mọi lỗi; lượt báo cáo chỉ theo hành trình CH03, không đếm riêng từng phòng. Kết quả không dùng để suy tỷ lệ toàn chuỗi hay chấm chất lượng chung.

Các metric giúp theo sự cố tới kết quả khi báo cáo dùng lặp lại. Nếu ít batch, ghi tay theo cùng định nghĩa có thể đủ, chưa cần tự động hoá. Khi mở rộng, thêm các batch dự kiến nhưng chưa nhận để tránh bỏ sót. Dữ liệu mẫu thiếu phần này nên chưa tính mức đầy đủ toàn chuỗi hoặc đặt ngưỡng đạt chung.

Khi nào nên làm, khi nào chưa cần

Nên ghép thành hồ sơ chung khi nhiều nhóm cùng đưa dữ liệu tới báo cáo dùng đều đặn, sự cố phải qua nguồn và kỹ thuật, hoặc người nhận cần biết bản nào được dùng. Bắt đầu từ báo cáo đang gây vướng, không cần mô tả mọi dữ liệu của tổ chức cùng lúc.

Có cách khác: nhóm nhỏ có thể dùng một tệp gồm phạm vi, phân vai, quy tắc, quyền và sổ theo dõi sự cố. Khi tệp không còn theo kịp nhiều lần nhận và thay đổi quyền, xét công cụ hỗ trợ. Nếu báo cáo nhẹ ở nguồn đã đủ, chưa cần dựng data warehouse chỉ để áp dụng các bảng này. Trách nhiệm và cách dùng vẫn cần rõ ở nơi đang làm báo cáo.

Chưa cần một hồ sơ nhiều bước cho tệp một người dùng một lần, ít ảnh hưởng và đối chiếu được ngay. Ghi nguồn, cách tính và giới hạn ngay trong tệp có thể đủ. Nếu tệp bắt đầu dùng để ra quyết định quan trọng hoặc gửi cho nhiều nhóm dùng lại, nên xét lại mức kiểm và phân quyền. Trước khi vận hành, thử cả nhận trễ, bản gửi lặp, bản sửa, phần chờ và quyền thực tế.

Tự làm

R05 còn thiếu mã khi sắp tới giờ dùng báo cáo. Trưởng phòng nói cứ điền CH02 vì batch do CH02 gửi. Data Steward và kỹ thuật nên xử lý thế nào?

Gợi ý
Phân biệt quyền chọn cách dùng bản tạm với căn cứ xác nhận giao dịch thuộc cửa hàng nào.
Xem đáp án

Hỏi CH02 kiểm giao dịch gốc, giữ bản nhận và tách dòng chờ theo quy tắc. Người lập báo cáo ghi phần chưa phân được cho cửa hàng; người có quyền xét chờ hay dùng bản tạm. Quyền chốt cách dùng không biến mã đoán thành mã đúng.

Nếu CH02 xác nhận và gửi bản sửa đúng điều kiện được giao, kiểm và tính lại mà chưa cần duyệt riêng từng dòng. Bản tạm có giới hạn phù hợp khi phần còn lại đủ cho cuộc họp; nếu quyết định cần đúng kết quả của CH02, nên chờ hoặc đổi giờ dùng.

Người xem tổng bán hàng xin mở tệp gốc của mọi cửa hàng để tiện tự kiểm. Công cụ chỉ có quyền mở cả tệp. Có thể chọn phương án nào?

Gợi ý
Xác định việc cần kiểm, phần chi tiết cần dùng và người có quyền chốt trước khi xét cách cấp.
Xem đáp án

Làm rõ lỗi, kỳ và cửa hàng cần đối chiếu để người có quyền xét nhu cầu. Nếu được chấp thuận, cung cấp bản riêng đúng phạm vi, kiểm nội dung và người nhận. Nếu chưa tạo được bản phù hợp, báo giới hạn và giữ yêu cầu chờ.

Quyền rộng hơn phù hợp khi công việc cần mọi chi tiết và phạm vi đã được chốt. Nếu chỉ cần giải thích một tổng, bảng đối chiếu hoặc người lập báo cáo hỗ trợ có thể đủ. Chưa cần đổi công cụ cho yêu cầu đơn lẻ khi bản riêng đáp ứng và kiểm được.

Nhóm đề nghị theo dõi batch nhận đúng hạn thay cho giờ người xem mở bản mới. Họ cũng muốn thêm dữ liệu mọi cửa hàng vào bảng theo dõi. Cần giữ hoặc bổ sung gì?

Gợi ý
Theo từ nhận tới phục vụ, rồi phân biệt batch đã nhận với batch dự kiến nhưng chưa tới.
Xem đáp án

Giữ riêng metric khâu nhận và metric phục vụ. CH03 tới trước 08:00 nhưng bản mới chỉ mở lúc 08:15, nên giờ nhận chưa thay được giờ người dùng có kết quả. Khi mở rộng, ghi phạm vi cửa hàng và batch dự kiến theo kỳ, batch chưa nhận, lúc nhận, mốc mở bản mới và cách nhận diện lượt báo cáo. Chưa có dữ liệu đủ thì ghi phần chưa xác nhận, không suy từ mẫu thành kết quả toàn chuỗi.

Nếu chỉ tìm vấn đề khâu nhận, theo dõi khâu ấy có thể đủ, nhưng không cho biết báo cáo có kịp không. Với ít batch, chưa cần tự động nếu sổ ghi tay vẫn giúp đối chiếu các mốc theo cùng định nghĩa.

Hiểu nhầm thường gặp

“Có data warehouse và Silver thì báo cáo vận hành được.” Còn cần người chốt phần thiếu, quy tắc đúng mục đích, quyền phù hợp và bằng chứng người xem có kết quả đúng giờ.

“Người có quyền duyệt có thể xác nhận giá trị nào cũng được.” Quyền chấp thuận cách dùng báo cáo khác căn cứ xác minh giao dịch. Cửa hàng vẫn cần kiểm dữ kiện nguồn.

“Nhận hết batch đúng hạn thì báo cáo đúng hạn.” Các khâu kiểm, tính và phục vụ còn có thể chờ. Cần theo tới lúc mở được đúng bản mới.

“Ba metric xanh nghĩa là dữ liệu đúng và quyền an toàn.” Mỗi metric chỉ đo phần đã định nghĩa. Các lỗi khác, batch chưa tới và quyền ngoài phạm vi cần cách kiểm riêng.

Tóm tắt

Thuật ngữ trong bài

Tiếng Việt Tiếng Anh
Kho dữ liệu data warehouse
Khoá nhận diện Key
Lô dữ liệu, xử lý theo lô batch
Người chịu trách nhiệm dữ liệu Data Owner
Người điều phối dữ liệu Data Steward
Người phụ trách kỹ thuật dữ liệu Data Custodian
Chất lượng dữ liệu Data quality
Lớp dữ liệu thô Bronze
Đã kiểm Silver
Phục vụ báo cáo Gold
Vùng cách ly Quarantine
Ma trận truy cập Access matrix

Mẫu tải về: Hồ sơ vận hành (Word); Ma trận phân vai và truy cập (Excel). Nội dung giống bảng đã điền ở mục Ví dụ giải sẵn, để trống cho bạn điền.

Bài liên quan: “Case study kiến trúc”, “Quyền quyết định và trách nhiệm”, “Chất lượng dữ liệu”, “Sử dụng và bảo vệ dữ liệu”, “Lineage và ảnh hưởng thay đổi”.